Cho Thuê Văn Phòng Ảo, Văn Phòng Chia Sẻ tại các toà nhà hạng A, trung tâm tp.hcm

Tư duy biện chứng trong kinh doanh

“Chủ nghĩa duy vật biện chứng” là học thuyết về bản chất vật chất của thế giới vận động và phát triển. Trong đó, “Phép biện chứng duy vật” là học thuyết về sự vận động, phát triển của chính thế giới vật chất cũng như của ý thức con người phản ánh thế giới đó. Chúng ta cần tránh 2 thái cực sai lầm là xem thường triết họctuyệt đối hóa vai trò triết học vì nó sẽ dẫn đến kết quả là dễ bị mất phương hướng, thiếu tầm nhìn, thiếu chủ động và kết quả là dễ bị vấp vá, thất bại. Trong thực tế, các lợi ích của phép biện chứng chưa thể hiện rộng rãi như khả năng của nó. Vì, thứ nhất, phép biện chứng mang tính trừu tượng và khái quát cao, không được người học tiếp nhận một cách trực tiếp thông qua các giác quan như các môn học trực quan nên khó hiểu, khó vận dụng. Thứ hai, có rất ít ví dụ minh họa cụ thể hóa để thấy lợi ít của các luân điểm triết học trong các khoa học chuyên ngành. Thứ ba, các bài giảng của giảng viên hầu như không nói đến việc triết học đã đem lại những lợi ích gì cho các khoa học chuyên ngành.

  1. Phép biện chứng : Nguyên lý và các quy luật cơ bản về sự phát triển.

Phép biện chứng là khoa học nghiên cứu các quy luật phổ biến chung nhất về sự phát triển tự nhiên xã hội, tư duy. Và nó đã đạt được 2 thành tựu là Nguyên lý về sự phát triển và các quy luật cơ bản về sự phát triển của phép biện chứng.

  1. Nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng.

Phát triển là một phạm trù triết học dùng để khái quát quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Tùy thuộc vào hình thức tồn tại cụ thể của các dạng vật chất, sự phát triển sẽ khác nhau. Sự phát triển diễn ra theo đường xoáy trôn ốc, và độc lập với ý thức của con người. Khi xem xét các sự vật và hiện tượng ta phải đặt nó trong sự vận động, sự phát triển, và phải phát hiện ra các xu hướng biến đổi, chuyến hóa của chúng. Trong quá trình phát triển, sự vật thường đồng thời có những sự biến đổi tiến lên và thụt lùi. Để vận dụng quan điểm phát triển ta cần phải tìm ra mâu thuẫn của chính sự vật, và bằng họat động thực tiễn mà giải quyết mâu thuẫn. Và phải hiện thực hóa hai quá trình là : thông qua những sự tích lũy về lượng mà tạo ra sự thay đổi về chất; thông qua phủ định của phủ định.

  1. Các quy luật cơ bản của phép biện chứng.

Quy luật chuyến hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại : Bất cứ sự vật nào cũng là sự thổng nhất giữa chất và lượng, sự thay đổi dần dần về lượng vượt qua giới hạn của độ sẽ dẫn tới thay đổi căn bản về chất của sự vật thông qua bước nhảy; chất mời ra đời sẽ tác động trở lại tới sự thay đổi của lượng.

Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập : Mọi sự vật và hiện tượng đều chứa đựng những mặt, những khuynh hướng đối lập tạo thành những mâu thuẫn trong bản thân mình; sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập tạo thành xung lực nội tại của sự vận động và phát triển, dấn tới sự mất đi của cái cũ và sự ra đời của cái mới.

Quy luật phủ định của phủ định : Quy luật này nói lên mối liên hệ, sự kế thùa giữa cái bị phủ định và cái phủ định; do sự kế thừa đó, phủ định biện chứng không phải là sự phủ định sạch trơn, bác bỏ tất cả sự phát triển trước đó, mà là điều kiện cho sự phát triển, nó duy trì và giữ gìn nội dung tích cực của các giai đoạn trước, lặp lại một số đặc điểm cơ bản của cái xuất phát, nhưng trên cơ sở mới cao hơn,; do vậy. sự phát triển có tính chất tiên slên không phải theo đường thẳng, mà theo đường xoáy ốc. Trong đó Quy luật đối lập được coi là “hạt nhân”, “bản chất” của phép biện chứng. Thậm chí các nhà nghiên cứu còn xem 2 quy luật trên là 2 trường hợp riêng của quy lụât về đối lập.

  1. Về việc áp dụng phép biện chứng vào lĩnh vực sáng tạo và đổi mới

Phép biến chứng bao gồm các (yếu tố) thành phần cấu trúc : Các nguyên lý, các quy luật, các nguyên lý phương pháp luận và các phạm trù.

  • Nguyên lý (lý thuyết) : là các ý tưởng chủ đạo, các quy tắc nền tảng chung, tạo thành cơ sở của phép biện chứng.
  • Quy luật : Gồm 3 quy luật cơ bản ( quy luật về lượng-chất, về phủ định và về đối lập); quy luật không cơ bản (thể hiện quá trình phát triển, bổ sung cho quy lụât cơ bản và là các nguyên lý)
  • Các nguyên lý phương pháp luận : Dựa vào nguyên lý về sự thông nhất, Logic và lý thuyết nhận thức thì cấu trúc của phép biện chứng có thứ tự như sau: 1) Bản thể luận : lý thuyết chung của CN duy vật biện chứng; 2) Nhận thức luận; 3) Logic học biện chứng.
  • Các phạm trù : là các khái niêm chung nhất, mỗi phạm trù phản ánh một khía cạnh cảu hiện thực và không tách rời với những khía cạnh khác.

Để vận dụng phép biện chứng vào lĩnh vực chuyên ngành cần thực hiện những bước sau : 1) Xác định đối tượng nghiên cứu, chức năng, đặc thù. 2) Xác định các yếu tố của phép biện chứng phù hợp với chuyên ngành đó. 3) Cụ thể hóa các yếu tố đó. 4) Xây dựng phương pháp luận ứng dụng phép biện chứng vào chuyên ngành đó.

Để các quá trình và kết quả ở bước 3 và 4 phù hợp với thực tiễn và được thừa nhận là chân lý cần lưu ý đến thực tiễn cụ thể của lĩnh vực chuyên ngành đó với các điều kiện lịch sử. Phép biện chứng nhắc nhở: Chân lý luôn luôn là cụ thể. Thực tiễn là cơ sở, mục đích, động lực chủ đạo và trực tiếp của nhận thức, xét đến cùng, là tiêu chuẩn của chân lý.

Nhìn lĩnh vực sáng tạo và đổi mới theo nội dung của 3 quy luật cơ bản về sự phát triển của phép biện chứng thì sáng tạo và đổi mới là công vịêc phủ định. Con người nhận thức hoặc tạo ra những đối tượng (hệ thống) đồng thời có tính mới và tính ích lợi, thay thế (phủ định) đối với tiền thân. Con người giữ lại những cái con người cần, khắc phục nhược điểm hoặc thêm ưu điểm để có thêm lợi ích phù hợp với các quy luật khách quan đối với đổi tượng tiền thân. Trong đó Quy luật về phủ định trả lời câu hỏi “Sự phát triển có hình thức như thế nào?”, Quy luật về lượng chất - “Sự phát triển xảy ra như thế nào?”Quy luật về đối lập - “Tại sao sự phát triển xảy ra?”.

  1. Tư duy biện chứng trong lĩnh vực sáng tạo và đổi mới
  1. Tư duy biện chứng : nghĩa rộng và nghĩa hẹp

Tư duy biện chứng (Logic biện chứng) là biện chứng khách quan phản ánh hiện thức khách quan vào óc con người. Theo nghĩa hẹp, là tư duy sử dụng các luận điểm cề phát triển của phép biện chứng vào giải quyết vấn đề và ra quyết định để tạo ra sự phất triển trong nhận thức (làm các phát minh) và biến đổi hiện thực (làm các sáng chế). Theo nghĩa rộng, là quá trình con người thực hiện sáng tạo và đổi mới, có nghĩa, thay trạng thái thống nhất các mặt đối lập ở mức phát triển thấp hơn bằng trạng thái thống nhất ở mức phát triển cao hơn, thể hiện trong các phát minh, sáng chế.

  1. TRIZ : Các loại mâu thuẫn trong giải quyết vấn đề và ra quyết định

Quá trình thực hiện giải quyết vấn đề và ra quyết định chính là quá trình suy nghĩ và hành động phát hiện mâu thuẫn, giải quyết mâu thuẫn. Vấn đề là : 1) Có mấy loại mâu thuẫn thường gặp trong lĩnh vực sáng tạo và đổi mới ? 2) Cách phát hiện ra chúng ? 3) Giải quyết chúng như thế nào để tạo ra sự phát triển ? G.S. Altshuller  phân ra thành 3 lọai mâu thuẫn sau :

Mâu thuẫn hành chính (MH) : là mâu thuẫn giữa biết và không biết cần phải làm gì đó mới để đạt được mục đính đề ra, thường gặp trong quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới như cấp trên giao việc cho cấp dưới chỉ nếu múc đích mà không chỉ cách thực hiện.

Mâu thuẫn kỹ thuật (MK) :  là mẫu thuẫn phát sinh trong quá trình giải bài toán bằng những ý tưởng quen thuộc, đã biết dựa trên kinh nghiệm của chính người giải, hoặc kinh nghiệm, phương pháp có sẵn trong lĩnh vực mà bài toấn nảy sinh. Gồm 2 loại : MK1 (A tốt lên -> B xấu đi) và MK2 (B tốt lên -> A xấu đi). Thường gặp trong lĩnh vực thiết kế và chế tạo.

Mâu thuẫn vật lý (ML) : là mâu thuẫn loại trường nhau giữa (Đ) mang lại lợi ích này và (Đ’) mang lại lợi ích kia, và giải quyết bằng cách thống nhất chúng lại.

  1. Mối quan hệ, vai trò, ý nghĩa của các loại mâu thuẫn trên

Không nên máy móc giải bất kỳ bài toán nào cũng đi phân tích tìm mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn mà chỉ nên áp dụng điều trên vào các bài toán có mức khó – phức tạp cao.

Cần nắm nội dung của các khái niệm mâu thuẫn, tráng căn cứ vào tên gọi của chúng mà suy diễn theo ý mình.

3 loại mâu thuẫn không đúng riêng lẽ nhau mà liên quan với nhau và khác nhau về độ sâu sắc. MH thuộc về bề nổi, MK đi vào bài toán cụ thể nên sâu sắc hơn MH và ML là mâu thuẫn sâu sắc nhất

3 loại mâu thuẫn đều có mặt trong quá trình giải toán để tạo ra sự phát triển.

MK có 1 số đặc điểm cần lưu ý như : A) Có sự tác động về quy lụât lượng chất dẫn đến làm nảy sinh các vấn đề trên con đường phát triển. B) MK đòi hỏi cần phải xem xét kĩ việc A tăng và B giảm như thế nào để tránh việc phải trả giá, không làm nảy sinh nhưng vấn đề khác. C) Nếu cái thiệt, cái xấu đi, mất đi là không đáng kể thì cứ thực hiện. D) Muốn đạt đc lợi ích nào đó thì luôn phải trả 1 cái giá nào đó, nếu thấy chấp nhận đc thì cứ thực hiện. E) Nếu cái thiệt, cái xấu đi, mất đi là đáng kể mà vẫn chấp nhận đc do có nguồn khác bù trừ vào thì cứ thực hiện. G) “không đáng kể”, “đáng kể”, “hợp lý”, “chấp nhận đc” mang tính tương đối và chủ quan. H) Nếu cái thiệt, cái xấu đi, mất không thể chấp nhận đc , bù trừ đc thì phải sáng tạo cách mới để thực hiện.. I) PPLSTVĐM đòi hỏi luôn phải ý thức cải tiến trong mọi trường hợp.

ML có 1 số đặc điểm cần lưu ý như : A) ML của 1 bài toán cụ thể là mâu thuẫn sâu sắc nhất, tập trung nhất bản chẩt của bài toán đó. B) Để phát hiện ML thì phải xác định được “ thành phần thích hợp của hệ thống” và “các mặt đối lập loại trừ nhau”. C)Tư duy biện chứng theo mâu thuẫn đòi hỏi phải tìm ra những “vô lý”, “nghịch lý” để giải quyết từ đó tìm ra ML và từ đó dùng công cụ TRIZ để khắc phụ mâu thuẫn. D) Cần linh họat trong việc sử dụng logic hình thức nếu không sẽ khó tìm ra ML. E) Ngôn ngữ tự nhiên (tên gọi) đôi lúc không phản ánh đc sự thống nhất của các mặt đối lập. Do đó, trong quá trình sử dụng ngôn ngữ giải bài toán cần phải phiên dịch qua lại giữa ngôn ngữ tự nhiên và ngôn ngữ biện chứng để có thể nhìn thấy đc ích lợi. G) Con người dùng chất xám giải quyết ML bằng cách tạo ra sự thống nhất mới, ở đó có sự kế thừa các ưu điểm, khắc phục các nhược điểm, hoặc thêm ưu điểm mới từ đó tạo ra giá trị thặng dư. H) Khi giải bài toán cần phải tính đến sự phong phú, đa dạng của các cặp đối lập để ra quyết định phù hợp. I) Trong công việc, khi giao tiếp đàm phán cần áp dụng cách giải quyết ML để cả 2 bên đều đạt các mục đích của mình và còn cộng tác với nhau trong tương lai.

TRIZ trang bị cho ta cách giải quyết vấn đề bằng phương pháp phát hiện và giải quyết mâu thuẫn và các công cụ khá cụ thể để giải quyết mâu thuẫn.

Làm thế nào loại bỏ đối thủ cạnh tranh? (Phần hai)

Làm thế nào loại bỏ đối thủ cạnh tranh? (Phần hai)

Bán hàng, ngày nay không chỉ đơn thuần là hành vi đưa hàng ra thu tiền về. Đó là quá trình từ quảng cáo tiếp thị để khách hàng biết đến sản phẩm, làm quen với sản phẩm... Người bán hàng thành công là người khiến khách hàng gắn bó với bạn mãi mãi.

Chiến lược phát triển tăng trưởng tập trung

Chiến lược phát triển tăng trưởng tập trung

Một thời, nói đến taxi, người ta nghĩ ngay đó là mailinh, với màu xanh hy vọng, nhưng đó là thời mà kinh tế thịnh vượng, không gặp bão khó khăn, nhưng những năm gần đây, khi nền kinh tế đi xuống, kéo theo sự đầu tư dàn trải, không tập trung vào thế mạnh vốn có của mình, Mailinh

Lý luận về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại

Lý luận về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại

Phân tích điểm mạnh và điểm yếu trong phạm vi doanh nghiệp
Để xây dựng được chiến lược kinh doanh doanh nghiệp phải tiến hành phân tích, đánh giá những yếu tố bên trong doanh nghiệp như : tiềm lực tài chính, nguồn nhân lực, trình độ tổ chức quản lý, cơ sở vật chất kỹ thuật...Từ đó xác định được điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp ,

Các chiến lược cạnh tranh, nội dung, So sánh sự khác nhau, Ưu nhược điểm, khi nào thì vận dụng

Các chiến lược cạnh tranh, nội dung, So sánh sự khác nhau, Ưu nhược điểm, khi nào thì vận dụng

Chiến lược chi phí thấp nhất :
Mục tiêu của công ty theo đuổi chiến lược chi phí thấp là tạo lợi thế cạnh tranh bằng cách tạo ra sản phẩm với chi phí thấp nhất. 
 
Đặc điểm: 
Tập trung vào công nghệ và quản lý để giảm chi phí

Hoạt động kinh doanh của chúng ta là gì ?

Hoạt động kinh doanh của chúng ta là gì ?

Để có ý nghĩa mục tiêu phải có bốn đặc tính.
Thứ thất, một mục tiêu được coi là thiết lập tốt nếu nó chính xác và có thể đo lường.

Quạ đen và Chim Ưng

Quạ đen và Chim Ưng

Ở đời làm gì cũng phải biết năng lực của bản thân, đừng mù quáng để rồi chuốc lấy thất bại”.

Có một người chăn cừu nuôi cả nghìn con cừu trong nông trường, ông ta và các con đều sống ở đó. Người chăn cừu có hai người hàng xóm, Chim Ưng và Quạ. Chim Ưng làm tổ trên vách đá, suốt ngày nhìnchằm chằm vào đàn cừu. Còn Quạ thì làm tổ trên một cái cây nhỏ trên núi. Mỗi khi khát nước, Quạ đều bay xuống nông trường uống nước của cừu. Người chăn cừu cứ như vậy bình an sống cùng hai người hàng xóm.

IKEA nhà bán lẻ hàng đầu

IKEA nhà bán lẻ hàng đầu

IKEA có lẽ là nhà bán lẻ toàn cầu thành công nhất thế giới. Được thành lập bởi Ingvar Kamprad tại Thụy Điển vào năm 1943 khi ông chỉ mới 17 tuổi, ngày nay siêu thị bán đồ gia dụng này đã phát triển thành một thương hiệu nổi tiếng toàn cầu với 230 cửa hàng tại 33 quốc gia, đón tiếp 410 triệu khách hàng mua sắm mỗi năm và thu về 14,8 tỷ EURO (tương đương 17,7 tỷ USD). Bản thân Kamprad, ông chủ tập đoàn tư nhân này, được đồn đại là người giàu nhất thế giới.

Tư duy biện chứng trong kinh doanh

Tư duy biện chứng trong kinh doanh

Phép biện chứng duy vật” là học thuyết về sự vận động, phát triển của chính thế giới vật chất cũng như của ý thức con người phản ánh thế giới đó. Chúng ta cần tránh 2 thái cực sai lầm là xem thường triết họctuyệt đối hóa vai trò triết học vì nó sẽ dẫn đến kết quả là dễ bị mất phương hướng, thiếu tầm nhìn, thiếu chủ động và kết quả là dễ bị vấp vá, thất bại. Trong thực tế, các lợi ích của phép biện chứng chưa thể hiện rộng rãi như khả năng của nó. Vì,